Trong văn hóa Nhật, có một khía cạnh
đặc sắc không bao giờ thay đổi, đó chính là bishounen - trai đẹp. Không
phải cứ đẹp trai là nghiễm nhiên trở thành bishounen nhé; khái niệm
bishounen là một thể loại đàn ông đặc biệt: mềm mại, mắt to, miệng nhỏ
xinh, cử chỉ dịu dàng hơn cả con gái.
| Bishounen thời hiện đại |
Mở truyện manga, xem phim anime, nghe nhạc J-pop, bạn đều có thể gặp các chàng bishounen quyến rũ một cách phi giới tính. Nếu pederasty (tình yêu nam-nam, người Việt Nam mình cũng hay dùng từ pêđê
với nghĩa không được tôn trọng lắm) thời Hy Lạp cổ đại đã trở thành một
tàn dư của lịch sử, thì một khái niệm tương tự ở Nhật Bản đã và đang có
ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống văn hóa nghệ thuật từ hàng trăm năm
nay.
|
“Nam thanh niên ngắm tranh núi Phú Sĩ”, của Suzuku Harunobu, 1650
|
Bishounen cổ kính nhất chính là những cậu bé phục vụ trong các đền thờ Phật và Thần đạo (shinto), tương đương với các altar boy (giúp lễ) của đạo Cơ Đốc. Cũng như altar boy, các chigo
(trẻ em) làm nhiệm vụ giúp đỡ các nhà sư trong việc cử hành các nghi
lễ, ca hát, nhảy múa mua vui, và phục vụ họ trong cuộc sống cá nhân.
Từ thời trung cổ đến thời Edo, các chigo
thường bắt đầu từ 7 tuổi và kết thúc khi dậy thì. Không phải chỉ tầng
lớp dân thường hoặc người hầu mới muốn đổi đời bằng cách làm chigo (như các thái giám nhỏ ở Trung Quốc) mà ngay cả con cái của tầng lớp samurai và quý tộc cũng làm chigo – họ coi việc gần gũi, tiếp nhận sự chỉ bảo (và tình ái) của các đàn anh là một phần tất yếu của việc trở thành đàn ông.
Các chigo thường để tóc dài,
mặc áo lụa là, trang điểm, cử chỉ điệu bộ như con gái, phục vụ vai trò
làm bình hoa di động tô điểm cho khung cảnh tu viện chùa chiền vốn ảm
đạm, và là “người yêu” của các nhà sư. Vì thế, chigo không chỉ cần đẹp
mà còn phải khéo léo, có giáo dục, biết làm thơ, vẽ tranh, ca hát, thậm
chí có dòng giống cao quý.
|
“Một
bishounen và người bảo trợ”, của Kuniyoshi Ishiyaikushi, 1845.
Bishounen Yoshitsune trang điểm, tư thế, điệu bộ không khác gì một
geisha, đối lập với gương mặt râu ria dữ tợn của “người yêu” Benkei.
|
Trong tiếng Nhật có từ nanshoku, dịch nôm na nghĩa là “nam sắc”, ngược với nữ sắc. Nanshoku
là cái đẹp phi giới tính, như đã nói ở trên, nó gần giống với những
thiên thần trong tranh Phục Hưng vậy. Và nếu trai đẹp trong văn hóa
phương Tây với cơ bắp cuồn cuộn, gương mặt góc cạnh, phong cách lãng tử
là những người chiếm hết gái đẹp thiên hạ, thì các bishounen lại thường
chiếm… trai giàu, hoặc là yêu… lẫn nhau.
|
“Madonna và bài Magnificat”, của Sandro Botticelli, 1481. Chú ý các thiên thần tóc dài gương mặt xinh xẻo.
|
Vào thế kỉ 16, một cuốn sách có tên
Kobo Daishi xuất hiện, cung cấp cho người đọc các bí quyết để quyến rũ
các chigo một cách hiệu quả nhất: yêu chiều, nịnh nọt, kể những câu
chuyện tình đồng chí anh em, quà cáp, và không thể thiếu được những
chiêu tế nhị không phù hợp để trích dẫn ra đây. Thế nhưng chuyện yêu
đương giữa chigo và các đàn anh đã xảy ra muộn nhất từ thế kỉ 12. Những cuốn sách như Jikkinsho, Kokonchomonju, hoặc một cuộn sách vô danh chigo no soshi (truyện chigo) nằm ở đền Daigo-ji (được coi như tác phẩm porno lâu đời nhất của Nhật), là bằng chứng cho điều đó.
| Một chigo đang bị các nhà sư chọc ghẹo tán tỉnh, chi tiết từ cuộn sách vô danh, 1321 |
Không phải truyện chigo nào cũng…
bậy bạ. Thường cốt truyện là một nhà sư yêu một chigo đẹp trai và bắt
đầu một cuộc tình lãng mạn, song những bi kịch cuộc sống chia rẽ họ, và
nhà sư nhờ đó ngộ ra lẽ vô thường của cuộc sống. Trong một câu chuyện
như vậy, nhà sư Keikai đã được khai sáng và lên Niết bàn nhờ tình yêu
với một chigo, chigo đó thực ra do đức Quan Âm hóa thành.
|
“Chigo Daishi trên tòa sen.” Vô danh, thế kỉ 14
|
Khi kết thúc nhiệm kỳ, các chigo
hoặc trở thành nhà sư (và sẽ có chigo riêng của mình), hoặc hòa nhập
vào cuộc sống bên ngoài, làm samurai, làm học giả, lấy vợ, sinh con đẻ
cái. Vấn đề là nếu không được sự cho phép của chủ nhân, chigo sẽ không
thể chính thức trở thành một người trưởng thành.
Vào năm 1472, một chigo là Aimitsu đã tự sát vì người chủ Jinson có chigo
khác, và Aimitsu không còn chỗ đứng nào trong xã hội nữa. Khi đó
Aimitsu 28 tuổi, quá già để tiếp tục làm chigo, không đủ địa vị để làm
một nhà sư, lại càng không thể bắt đầu một cuộc sống bình thường như bao
người khác.
Bên ngoài môi trường tu viện, thế giới bên ngoài cũng mê mẩn các bishounen. Khác với các chigo chỉ chuyên phục vụ giới tăng lữ, wakashu là tài sản của các samurai và lãnh chúa. Nhưng ngoài nhiệm vụ hầu rượu mua vui, các wakashu
còn có nhiệm vụ chiến đấu dưới trướng chủ nhân và sẵn sàng hy sinh nếu
cần. Không thiếu những câu chuyện về việc tranh giành các wakashu
đẹp trai giữa các samurai quyền lực, chả khác nào Đổng Trác, Lã Bố
giành nhau Điêu Thuyền! Cuốn Hagakure (1716) hướng dẫn chi tiết những
nghi thức của việc cưa cẩm và yêu đương cho giới chiến binh: wakashu chỉ
được nhận lời yêu sau khi được tán tỉnh nhiều năm, một khi đã chính
thức phải chung thủy với người tình, và nếu có ai khác ngấp nghé phải từ
chối ngay lập tức!
Làm trai đẹp trong xã hội Nhật thời xưa đâu phải đơn giản. Cuốn Shin Yuki (1643) lại chỉ ra những tính chất cần có của wakashu:
da trắng, tóc dài đen mượt, môi đỏ, má hồng, biết làm thơ và chơi nhạc.
Wakashu no hara thì phân chia ra: wakashu từ 11-14 tuổi là hoa hé nụ,
15-18 là hoa bừng nở, 19-22 là hoa đang tàn lụi.
Khi đã qua tuổi wakashu, họ được làm lễ trưởng thành. Yêu wakashu
dưới 11 tuổi hoặc trên 22 tuổi bị coi là… lập dị và biến thái. Thời thế
bây giờ đã thay đổi biết bao! Để so sánh, các mỹ nữ cũng được coi là
đẹp nhất vào tuổi 16, và không một nhà chứa thời Edo nào giữ kỹ nữ quá
tuổi 22 trừ khi nàng đẹp một cách xuất chúng.
|
“Tình
tay tư” nằm trong series chế nhạo chuyện yêu đương lộn xộn của giới quý
tộc và wakashu, của Utamaro, 1804. Họa sĩ gặp không ít rắc rối vì dám
vẽ tranh cười nhạo những người có quyền và hay lạm dụng quyền để làm trò
vô luân.
|
Trong quá trình yêu đương và tìm hiểu, người bảo trợ cho wakashu
không chỉ hưởng lợi từ vẻ đẹp và sự trẻ trung của họ, mà còn phải dạy
họ các kĩ năng chiến đấu, văn hóa, lòng tự trọng, danh dự. Mối quan hệ
có lợi cho cả hai này khá giống với mối quan hệ thầy trò-tình nhân của
Hy Lạp cổ.
Mối tình giữa tướng quân shogun
Ashikaga Yoshimitsu với wakashu Zeami (khoảng 1374) giúp tài năng hát
múa của Zaemi nở rộ; những bài học Zaemi và cha biên soạn trở thành nền
tảng cho kịch Noh nổi tiếng. Kịch Noh đã vậy rồi, kịch Kabuki còn gần
gũi hơn với chuyện yêu đương bishounen. Từ 1629 đến 1646, chính phủ bắt
đầu cấm phụ nữ tham gia kịch Noh và Kabuki. Những đoàn kịch Kabuki bao
gồm toàn bộ diễn viên nam, có những người đóng vai phụ nữ và trở thành
món hàng hấp dẫn chuyền tay giữa những nhà bảo trợ giàu có.
|
Tranh
khắc gỗ đề tài kabuki, cô gái mỹ miều này do một nam diễn viên, Danjuro
Ichikawa của gia đình kịch nghệ Ichikawa, đảm nhận.
|
Ngoài những diễn viên, những nhi đồng
tập sự iroko cũng trở thành món hàng béo bở. Thật hài hước là ngành mại
dâm nam ở Nhật phát triển nhất ở khu ca kịch, thứ đến là khu đền chùa,
nơi có nguồn chigo dồi dào. Trong một cuốn tự truyện của Casanova Nhật
Bản (1682), chàng chigo trẻ tuổi, sau khi làm lễ trưởng thành và chu du
đây đó, quay lại hành hương ở đền Hase, mua một kỹ nam đẹp trai, người
hóa ra hơn anh ta những mười tuổi. Yếu tố chủ chốt của nanshoku, hay nam sắc, là đối tượng hấp dẫn phải nhỏ hơn tuổi của người bảo trợ. Đối trọng của nanshoku là joshoku, nữ sắc. Nên nhớ cả nanshoku và joshoku
đều chỉ sự ham muốn từ phía người đàn ông. Nhu cầu yêu đương của phụ nữ
Nhật thời xưa có vẻ chưa được chú ý lắm, đến mức không có từ riêng để
chỉ!
Khi Nhật mở cửa cho phương Tây vào năm 1868 (bị ép mở cửa thì đúng hơn), lần đầu tiên bishounen, nanshoku bị
lắp vào cái nhìn tiêu cực về tình yêu đồng giới, bị coi là “bệnh.” Có
điều, ở Tây phương, người đồng giới thường bị coi là người ẻo lả, nữ
tính, tìm cách quyến rũ những chàng trai cơ bắp, đàn ông, còn ở Nhật thì
ngược lại: những người có quyền lực và địa vị lại là kẻ theo đuổi.
Trong một thời gian ngắn Nhật Bản cấm quan hệ đồng giới cưỡng bức, nhưng
lại không biết làm thế nào với những người tự nguyện! Cuối thế kỉ 19,
đầu thế kỉ 20, nước Nhật rơi vào một trạng thái… hỗn loạn, không biết
phải làm gì để dung hòa truyền thống và dòng chảy hiện đại. Bishounen
được chia làm hai nửa: một nửa hư hỏng sống và làm việc trong khu đèn
đỏ, nửa còn lại trong sáng, đẹp đẽ, không thể chạm đến – nửa này sẽ phát
triển thành những thần tượng mà ta thấy ngày nay.
|
Bishounen đẹp trai, lạnh lùng, uy nghiêm, tranh minh họa của Takabatake Kasho trong tạp chí Bishounen Zukan, 1930
|
Lịch sử bây giờ đã sang một bước
ngoặt mới. Các bishounen hiện tại phục vụ cho một đối tượng hoàn toàn
mới: phụ nữ. Không chỉ người đọc mà cả người viết cũng là phụ nữ. Manga
cho con gái đầy ắp những chàng trai xinh đẹp. Và nhiều cô gái còn thích
ghép những chàng đó với nhau hơn cả… tự ghép mình. Tuy nhiên đối tượng
ăn khách nhất là một bishounen đẹp trai nhưng… xấu xa, lạnh
lùng. Con trai xem thì… ghét và muốn đánh cho một trận bõ ghét, còn con
gái xem thì yêu và muốn lấy làm chồng. Motif này đã cắm rễ vào phim
truyền hình Nhật, Hàn Quốc và chưa thấy dấu hiệu gì là sắp chấm dứt.
|
Tranh từ các manga Lửa (1969) và Thiên Nga (1976)
|
| “Koizora” (Bầu trời tình yêu), 2007 |
Nhật Bản, không khác gì mấy trăm năm
trước đây, vẫn bị ám ảnh với trai đẹp. Trong một rừng khán giả nữ thích
trai đẹp ẻo lả, cũng có một nhúm nhỏ đòi hỏi phải có nhiều hơn những
người đàn ông “râu hùm, hàm én, mày ngài”; nhưng với truyền thống lịch
sử đã vậy, thật… khó lắm thay.


0 comments:
Post a Comment